| |
|
Các
kế hoạch vội vã và đầy tham vọng, nhưng quy định của nhà nước
luôn thay đổi và không được nghiêm chỉnh chấp hành, cùng
với sự khai thác vô tội vạ, bất chấp môi trường sinh thái đã
dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Đây cũng là những kinh
nghiệm mà người nuôi tôm cũng như các cơ quan quản lý liên
quan của Việt Nam cần quan tâm.
Chỉ
trong khoảng thời gian năm, sáu năm, ngành nuôi trồng thủy sản của
Trung Quốc đã phát triển vượt bậc. Với sản lượng hàng năm lên
đến 200.000 tấn nuôi tôm công nghiệp và hơn 50 tỉ con tôm
giống nhân tạo, Trung Quốc chiếm hơn 50% sản lượng tôm nuôi trên
thế giới, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng tỉ đô la Mỹ.
Thế
rồi, năm 1993, hầu như toàn bộ nông dân dọc các vùng duyên hải
nước này bỗng thấy tôm nuôi của họ chết lềnh bềnh trên mặt nước,
hàng loạt, từ ngày này qua ngày khác. Công nghiệp nuôi tôm của
Trung Quốc sụp đổ, tác động mạnh đến thị trường hải sản thế
giời.
Hiện
tượng nuôi tôm bị chết hàng loạt xảy ra đầu tiên ở tỉnh Quảng
Đông và lan rộng rất nhanh chỉ trong vòng vài tuần. Đến cuối năm
1993, Trung Quốc đã thiệt hại đến 80-90% sản lượng tôm. Nông dân
sợ trắng tay, tìm cách bán đổ bán tháo tôm chưa đủ tiêu chuẩn
thu hoạch. Thế là trong một sớm một chiều, Trung quốc từ một nước
xuất khẩu tôm chuyển sang một nước nhập khẩu tôm.
Không
biết có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không, đợt phá sản
này lại xảy ra ngay vào khoảng thời gian có sự chuyễn đổi
chủ yếu về cơ cấu kinh tế Trung quốc. Các khu vực duyên hải
được gở bỏ nhiều hạn chế về kinh tế, có thể thu hút trực tiếp
đầu tư và nhập khẩu hành hoá nước ngoài, thay vì phải dựa vào
các dự án nuôi tôm.
mặt
khác tình hình sụt giảm sản lượng lúa gạo làm chính quyền lo
ngại về sự an toàn lương thực, chuyển qua khuyến khích và ưu
đãi người trồng lúa. Đây cũng là lúc các quan chức địa phương
bắt đầu phải giải thích với các nhà đầu tư nước ngoài và
chính quyền trung ương về các số liệu báo cáo phóng đại trong
lĩnh vực nuôi tôm.
Trước
đó, để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và có thể nhập khẩu
xe du lịch, xe tải, máy móc , phân bón phục vụ các dự án nuôi
tôm, họ buộc phải "vẽ" thêm các kết quả khả quan trên
giấy. Chuyên gia thủy sảnn Alec Forbes, giám đốc nông trại nuôi
tôm Hiển Long, một liên doanh giữa Trung Quốc và Mỹ, cho rằng số
liệu thống kê chính thức về sản lượng tôm nuôi của tỉnh Quảng
Đông năm 1987 là 85.000/ tấn, trong khi theo tính toán của ông chỉ
có 12.000 tấn.
Ngành
nuôi tôm của Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh sau năm 1985,
thời điễm chính quyền bãi bỏ kiễm soát vể thu mua và tiếp thị
mặt hàng tôm, mở ra hướng có lãi nhiều hơn cho nông dân. Năm
1987, ngành công nghiệp nuôi tôm Đài loan "gặp nạn" làm
fgiá tôm bị đẩy lên "'tận nóc", kích thích các công
ty của Đài Loan, Hồng Kông nhảy vào Trung Quốc. Đó là thời điễm
khởi đầu giai đoạn các hồ nuôi tôm được xây dựng ồ ạt
"như nấm sau mưa" ở Trung quốc.
Cuối
thập niên 80, khi chính quyền các địa phương nhận ra rằng phong
trào nuôi tôm có thể tiếp cận các nguồn ngoại tệ hiếm hoi, cơn
sốt này càng bộc phát, không kiểm soát được.
Do
ít quan tâm đến lợi ích kinh tế lâu dài và bảo vệ sinh thái,
nông dân hàu như không biết đến những khuyến cáo về duy trì
nguồn nước sạch, cải thiện nguồn thức ăn và tôm giống.
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, lượng nhập khẩu phân urê
phục vụ ngành nuôi tôm ở Trung quốc đã tăng đánh kể. Urê
được rải xuống đáy hồ trước khi đưa nước vào hồ sẽ giúp
tảo thực vật phát triển, cung cấp mmột nguồn thức ăn bổ sung rẻ
tiền cho tôm và lọc sạch nước.
Tuy
nhiên, nhiều nông dân đã chuyển sử dụng loại phân này từ hồ
nuôi tôm qua cho cây lúa và các cây trồng khác. Trong quá trình
nuôi, do ngân quỹ đầu tư hạn chế, họ cho tôm ăn đủ thứ, hạn
chế cung cấp viênthức ăn hổn hợp.
Công
nghiệp sản xuất tôm giống đã được triển khai rộng rãi, nhưng
nông dân không được đào tạo kỹ để xử lý tốt giai đoạn
tôm con nên tỉ lệ tôm chết khá lớn. Mặt khác, cũng như ở Đài
Loan trước đó, các đi6ểm lấy nước vào hồ nuôi tôm thường
được đặt cạnh các điểm xả nước của những hồ bên cạnh. Sự
ô nhiễm nguồn nước và thiếu ôxy đã tác động vào con tôm, làm
chúng dể mắc bệnh. Trong điều kiện đó, ngăn chặn sự lây nhiễm
nhanh chóng trên các vùng duyên hải quả là khó khăn, nếu không
muốn nói là không thể được.
Cho
đến nay ngành nuôi tôm của Trung Quốc vẫn chưa phục hồi được
và sản lượng chỉ bằng một phần khiêm tốn so với trước. Thời
hoành kim ngắn ngủi của ngành này cũng để lại một số hệ quả
về mặt môi trường cũng như kinh tế. Nhiều ruộng lúa đã bị
nhiễm mặn . Các giống tôm lai tạp giữa giống nhập ngoại và tại
chổ xuất hiện. Ngư dân đánh bắt hải sản và nông dân bị
"hút' vào nghề nuôi tôm giờ đây lại phải thay đổi công
việc. Các nhà máy chế biến được xây dựng ào ạt phải
mua hải sản từ các đội tàu đánh bắt xa bờ của Nga để
duy trì hoạt động và công ăn việc làm cho công nhân.
Đó
là chưa kể đến việc Trung quốc phải bỏ ngoại tệ ra để nhậ khẩu
tôm phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng lên và dần trở
thành thói quen từ thời con tôm "lên ngôi".
Danh
Văn
(Theo
Journal of Contemporary China)
|
|
|