Free Web Hosting by Netfirms
Web Hosting by Netfirms | Free Domain Names by Netfirms


Bài học nuôi tôm đắt giá

(TB Kinh tế Sài Gòn - 08/03/2001)


 

 

Các kế hoạch vội vã và đầy tham vọng, nhưng quy định của nhà nước luôn thay đổi và không được  nghiêm chỉnh chấp hành, cùng với sự khai thác vô tội vạ, bất chấp môi trường sinh thái đã dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Đây cũng là những kinh nghiệm mà người nuôi tôm cũng như các cơ quan quản lý liên quan của Việt Nam cần quan tâm.
Chỉ trong khoảng thời gian năm, sáu năm, ngành nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc đã phát triển vượt bậc. Với sản lượng hàng năm lên đến 200.000 tấn nuôi tôm công nghiệp  và hơn 50 tỉ con tôm giống nhân tạo, Trung Quốc chiếm hơn 50% sản lượng tôm nuôi trên thế giới, mỗi năm xuất khẩu thu về hàng tỉ đô la Mỹ.
Thế rồi, năm 1993, hầu như toàn bộ nông dân dọc các vùng duyên hải nước này bỗng thấy tôm nuôi của họ chết lềnh bềnh trên mặt nước, hàng loạt, từ ngày này qua ngày khác. Công nghiệp nuôi tôm của Trung Quốc sụp đổ, tác động mạnh đến thị trường hải sản thế giời.
Hiện tượng nuôi tôm bị chết hàng loạt xảy ra đầu tiên ở tỉnh Quảng Đông và lan rộng rất nhanh chỉ trong vòng vài tuần. Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã thiệt hại đến 80-90% sản lượng tôm. Nông dân sợ trắng tay, tìm cách bán đổ bán tháo tôm chưa đủ tiêu chuẩn thu hoạch. Thế là trong một sớm một chiều, Trung quốc từ một nước xuất khẩu tôm chuyển sang một nước nhập khẩu tôm.
Không biết có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không, đợt phá sản này lại xảy ra ngay  vào khoảng thời gian có sự chuyễn đổi chủ yếu về cơ cấu kinh tế Trung quốc. Các khu vực duyên hải được gở bỏ nhiều hạn chế về kinh tế, có thể thu hút trực tiếp đầu tư và nhập khẩu hành hoá nước ngoài, thay vì phải dựa vào các dự án nuôi tôm.
mặt khác tình hình sụt giảm sản lượng lúa gạo làm chính quyền lo ngại về sự an toàn lương thực, chuyển qua khuyến khích và ưu đãi người trồng lúa. Đây cũng là lúc các quan chức địa phương bắt đầu phải giải thích với các nhà đầu tư nước ngoài và chính quyền trung ương về các số liệu báo cáo phóng đại trong lĩnh vực nuôi tôm.
Trước đó, để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và có thể nhập khẩu xe du lịch, xe tải, máy móc , phân bón phục vụ các dự án nuôi tôm, họ buộc phải "vẽ" thêm các kết quả khả quan trên  giấy. Chuyên gia thủy sảnn Alec Forbes, giám đốc nông trại nuôi tôm Hiển Long, một liên doanh giữa Trung Quốc và Mỹ, cho rằng số liệu thống kê chính thức về sản lượng tôm nuôi của tỉnh Quảng Đông năm 1987 là 85.000/ tấn, trong khi theo tính toán của ông chỉ có 12.000 tấn.
Ngành nuôi tôm của Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh sau năm 1985, thời điễm chính quyền bãi bỏ kiễm soát vể thu mua và tiếp thị mặt hàng tôm, mở ra hướng có lãi nhiều hơn cho nông dân. Năm 1987, ngành công nghiệp nuôi tôm Đài loan "gặp nạn" làm fgiá tôm bị đẩy lên "'tận nóc", kích thích các công ty của Đài Loan, Hồng Kông nhảy vào Trung Quốc. Đó là thời điễm khởi đầu giai đoạn các hồ nuôi tôm được xây dựng ồ ạt "như nấm sau mưa" ở Trung quốc.
Cuối thập niên 80, khi chính quyền các địa phương nhận ra rằng phong trào nuôi tôm có thể tiếp cận các nguồn ngoại tệ hiếm hoi, cơn sốt này càng bộc phát, không kiểm soát được.
Do ít quan tâm đến lợi ích kinh tế lâu dài và bảo vệ sinh thái, nông dân hàu như không biết đến những khuyến cáo về duy trì nguồn nước sạch, cải thiện  nguồn thức ăn và tôm giống. Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, lượng nhập khẩu phân urê phục vụ ngành nuôi tôm ở Trung quốc đã tăng đánh kể. Urê được rải xuống đáy hồ trước khi đưa nước vào hồ sẽ giúp tảo thực vật phát triển, cung cấp mmột nguồn thức ăn bổ sung rẻ tiền cho tôm và lọc sạch nước.
Tuy nhiên, nhiều nông dân đã chuyển sử dụng loại phân này từ hồ nuôi tôm qua cho cây lúa và các cây trồng khác. Trong quá trình nuôi, do ngân quỹ đầu tư hạn chế, họ cho tôm ăn đủ thứ, hạn chế cung cấp viênthức ăn hổn hợp.
Công nghiệp sản xuất tôm giống đã được triển khai rộng rãi, nhưng nông dân  không được đào tạo kỹ để xử lý tốt giai đoạn tôm con nên tỉ lệ tôm chết khá lớn. Mặt khác, cũng như ở Đài Loan trước đó, các đi6ểm lấy nước vào hồ nuôi tôm thường được đặt cạnh các điểm xả nước của những hồ bên cạnh. Sự ô nhiễm nguồn nước và thiếu ôxy đã tác động vào con tôm, làm chúng dể mắc bệnh. Trong điều kiện đó, ngăn chặn sự lây nhiễm nhanh chóng trên các vùng duyên hải quả là khó khăn, nếu không muốn nói là không thể được.
Cho đến nay ngành nuôi tôm của Trung Quốc vẫn chưa phục hồi được và sản lượng chỉ bằng một phần khiêm tốn so với trước. Thời hoành kim ngắn ngủi của ngành này cũng để lại một số hệ quả về mặt môi trường cũng như kinh tế. Nhiều ruộng lúa đã bị nhiễm mặn . Các giống tôm lai tạp giữa giống nhập ngoại và tại chổ xuất hiện. Ngư dân đánh bắt hải sản và nông dân bị "hút' vào nghề nuôi tôm giờ đây lại phải thay đổi công việc. Các nhà máy chế biến được xây dựng  ào ạt phải mua hải sản từ các đội tàu  đánh bắt xa bờ của Nga để duy trì hoạt động và công ăn việc làm cho công nhân.
Đó là chưa kể đến việc Trung quốc phải bỏ ngoại tệ ra để nhậ khẩu tôm phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng lên  và dần trở thành thói quen từ thời con tôm "lên ngôi".

 

Danh Văn

(Theo Journal of Contemporary China)

 

 

 


VietLinh Pte.